Giới thiệu (*)

Họ và tên:       PHẠM QUỐC KHÁNH

Sinh        :                  23-04-1954
Quê quán: Liêm Hải, Trực Ninh, Nam Định
Điện thoại:               0945339919 
Quá trình công tác:
   - 1971-1977 Học viên khóa 6, Học viện Kỹ thuật Quân sự.
   - 1978-1987, Giáo viên, Trưởng bộ môn, Phó Chủ nhiệm Khoa HTĐ, Trường Sĩ quan CHKT Thông tin (Nay là Đại học Thông tin liên lạc), BTL Thông tin, Quân đội Nhân dân Việt Nam.
   - Tháng 7- 1987, Đại úy, Phó Chủ nhiệm Khoa Hữu tuyến điện, Trường Sĩ quan Chỉ huy - Kỹ thuật Thông Tin; do hoàn cảnh gia đình được chuyển ngành. Từ 8-1987 là Chuyên viên Ủy ban Kế hoạch tỉnh Hà Nam Ninh (nay là Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Nam Định).
   - Đào tạo: Kỹ sư Thông tin quân s 1971-1977 (Học viện Kỹ thuật Quân s); Kỹ sư Kinh tế công nghiệp 1989-1991 (Đại học Bách khoa Hà Nội); Cử nhân chính trị 1995-1998 (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh); Thạc sĩ Kinh tế 2004-2007 (tại Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân)
   - Công tác trước khi nghỉ hưu: Chuyên viên cao cấp bậc 5/6, Bí thư Đảng ủy, Phó Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Nam Định.
       - Hội thẩm Toà án nhân dân Tỉnh các khoá 1994 - 1999, 1999 - 2004, Phó Trưởng Đoàn Hội thẩm TAND Tỉnh Nam Định các khóa: 2004 - 2011, 2011- 2016, 2016 - 2021.               
        - Từ 1 - 5 - 2014, nghỉ hưu công chức nhà nước, tham gia công tác MTTQ Việt Nam: Ủy viên Ủy ban MTTQ tỉnh Nam Định nhiệm kỳ 2014 - 2019, Ủy viên Hội đồng tư vấn kinh tế của Mặt trận Tổ quốc tỉnh Nam Định.

       - Danh hiệu:    
          + Huân chương Lao động hạng Ba.
          + Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, Nhì, Ba.
          + Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ,
          + Chiến sĩ thi đua cấp Tỉnh,
          + Huy hiệu 30 năm và Huy hiệu 40 năm tuổi đảng.
          + Huy hiệu "Chiến sĩ Trường Sa" (BTL Hải Quân trao tặng trong chuyến công tác tại Huyện đảo Trường Sa tháng 03 - 2012).
               

QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG VĂN THƠ:


- Từ năm 2007 đến nay:   Phó chủ nhiệm CLB Thơ Nguyễn Công Trứ (ngành Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam).
- Từ năm 2011:    
               Hội viên CLB thơ Việt Nam,
- Từ năm 2013:
               Hội viên Thi đàn Việt Nam.      
- Ngày 20 - 3 - 2014, Đại hội lần thứ nhất Hiệp hội phát triển Văn hóa Doanh nhân Việt Nam (VNABC) được bầu là Ủy viên BCH HHVHDNVN.
- Tháng 5 - 2014  BCH Câu lạc bộ Thơ Việt Nam có nghị quyết và quyết định bổ sung vào BCH CLB Thơ VN tỉnh Nam Định.

- Ngày 25 - 6 - 2014, tại Hội nghị BCH CLB Thơ VN tỉnh Nam Định bầu là Phó Chủ tịch CLB Thơ VN tỉnh Nam Định, sau là Phó Chủ tịch thường trực CLB Thơ VN tỉnh Nam Định. 

- Ngày 29 - 8 - 2015, Hội nghị Thường vụ CLB Thơ VN tỉnh Nam Định bầu là Chủ tịch CLB Thơ VN tỉnh Nam Định. 

- Ngày 24 - 9 - 2015, Hội nghị BCH CLB Thơ Việt Nam bầu là Ủy viên Thường vụ BCH CLB Thơ Việt Nam - Phó Ban thi đua CLB Thơ VN.

- NGÀY 17 - 01 - 2016, ĐẠI HỘI LẦN THỨ NHẤT BẦU LÀ CHỦ TỊCH CLB THƠ VN TỈNH NAM ĐỊNH, NHIỆM KỲ 2016 - 2020. 

 * Một số thành tích:
             -   Kỷ niệm chương, Bằng khen, Huy chương Bạc CLB thơ VN.
             -   Kỷ niệm chương về thành tích công tác và cống hiến văn hóa nghệ thuật 10 Bộ, Ban, ngành: Kế hoạch và Đầu tư, Cựu chiến binh Việt Nam, Tòa án nhân dân tối cao, Học viện Kỹ thuật Quân sự, Binh chủng Thông tin liên lạc (Bộ QP), Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, Thanh tra Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và PTNT, Bộ Công an, Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh.
   Đồng tác giả Giải thưởng của Ban Tuyên giáo TW - Hội NSVN và Bằng khen của Bộ tư lệnh Hải quân tác phẩm "Giữa biển Đông vang Tiến quân ca".
    Đồng tác giả Bằng khen của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam
    Đồng tác giả Bằng khen và 4 giải thưởng của UBND tỉnh Hải Dương,
    Đồng tác giả Giải thưởng của UBND tỉnh  Hưng Yên,
    Đồng tác giả 2 Giải thưởng của UBND tỉnh Lạng Sơn
    Đồng tác giả Giải thưởng của UBND tỉnh Kon Tum.
    Đồng tác giả Giải thưởng của UBND TP. Đà Nẵng.
    Đồng tác giả Giải thưởng của CĐ Dầu khí Việt Nam.
    Đồng tác giả Giải thưởng của Tập đoàn Nam Cường.
   Đồng tác giả 2 Giải thưởng sáng tác văn học nghệ thuật kỷ niệm 110 năm, ngày sinh Tổng Bí thư Trường Chinh (trao ngày 08/02/2017).


TÁC PHẨM VÀ SỰ KIỆN:

- "Trang thơ Phạm Quốc Khánh" - trang thơ điện tử (Bảo trợ của Thi đàn Việt Nam). Đến 6 - 2017, đã sáng tác hơn 2.900 bài thơ, có 124 bài thơ phổ nhạc, đã được thể hiện và làm thành đĩa CD. 14 ca khúc đã giành giải thưởng của Hội Nhạc sĩ Việt Nam và một s ngành và địa phương.
- Tập thơ "Hoa của Đất" - NXB Hội Nhà văn - 2013 (2.000 cuốn, 172 trang, khổ 14,5 x 20,5).

- Tập thơ "Thu mong manh" - NXB Hội nhà văn - 2016 (500 cuốn, 125 trang, khổ 14,5 x 20,5)
- Tập thơ "Ước vọng xanh" - NXB Hội nhà văn - 2017 (500 cuốn,132 trang, khổ 14,5 x 20,5).
- Trưởng Ban Biên tập và viết lời giới thiệu tập thơ "Mùa phù sa" tập 2 của CLB Thơ Việt Nam Tỉnh Nam Định - NXB Hội nhà văn - 2015 (500 cuốn, 625 trang, khổ 14,5x20,5).

- Biên tập và viết lời giới thiệu tập thơ "Một nhành xuân" của cố Nhà giáo ưu tú, Chủ tịch CLB thơ đường nhà giáo tỉnh Nam Định Trịnh Phan Bích - NXB Hội nhà văn - 2016 (300 cuốn, 306 trang, khổ 14,5x20,5).


*  Tối ngày 04-8-2012, tại Làng Văn hóa  ẩm thực Hoàng Gia, Phường Cửa Nam, Thành phố Nam Định đã diễn ra Đêm Thơ - Nhạc Phạm Quốc Khánh - Vũ Trung và Ẩm thực Hoàng Gia với một chương trình giới thiệu 15 trong tổng số 73 ca khúc (đến nay đã là 124 ca khúc) Thơ Phạm Quốc Khánh phổ nhạc của Nhạc sĩ Vũ Trung (nay có thêm Nhạc sĩ - NSND Nguyễn Tiến 1 bài và nhạc sĩ Vũ Tuấn Hội của Quân Đội cũng phổ nhạc 1 bài) do các nghệ sĩ, diễn viên Trung tâm Văn hóa Tỉnh Nam Định biểu diễn sôi động, vui tươi, có hàm lượng nghệ thuật cao cùng hoạt động giao lưu ca múa và ẩm thực có chất lượng và tình cảm.  
* Khách  Trung ương và tỉnh bạn có: Nhạc sĩ Phạm Ngọc Khôi, Phó Chủ tịch Hội Nhạc sĩ Việt Nam, Vụ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Lưu Quang Khánh, Nhà thơ Lê Duy Phương, Chủ nhiệm CLB Thơ Nguyễn Công Trứ (Ngành Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam), các nhà thơ, nghệ sĩ, Hội doanh nhân nữ Thái Bình với sự có mặt của Doanh nhân Bông hồng vàng Hoàng Thị Hồng, Chủ tịch Hội, NSƯT (nay là NSND) Hồng Vân , và nhiều nhà thơ nổi tiếng của tỉnh Thái Bình. Tới dự còn có đại diện Trung tâm khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp (Bộ Công Thương), đại biểu Cục Kỹ thuật BTL Công Binh từ xa tới dự và giao lưu nhiệt tình.
* Lãnh đạo tỉnh Nam Định có: Đồng chí Nguyễn Khắc Hưng, Phó Bí thư thường trực Tỉnh ủy gửi thư và lẵng hoa chúc mừng. Các đồng chí lãnh đạo các cấp ủy, các Sở, Ban, Ngành, Đoàn thể, Hội đã tới dự giao lưu thơ ca và ẩm thực làm cho đêm liên hoan thật sôi động ấm áp vui tươi:
Đồng chí  Vũ Minh Tiến, Tỉnh ủy viên, Bí thư Đảng ủy khối các cơ quan tỉnh,
Đồng chí Nguyễn Như Hà, Tỉnh ủy viên, Bí thư và đ/c Trần Ngọc Liêm, Chủ nhiệm UBKT Đảng ủy khối Doanh nghiệp tỉnh
Đồng chí Lê Đức Ngân, Tỉnh ủy viên, Giám đốc và các đ/c Mai Thanh Long, Phạm Văn Khôi, Phó Giám đốc Sở Khoa học - Công nghệ.
Đồng chí Nguyễn Anh Sơn, Tỉnh ủy viên, Phó trưởng đoàn chuyên trách Đoàn Đại biểu Quốc hội, tỉnh Nam Định
Đồng chí Trần Anh Tú, Giám đốc cùng các phóng viên, kỹ thuật viên, biên tập viên và xe kỹ thuật của Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh.
Đồng chí Nguyễn Mạnh Hiền, Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Thông tin - Truyền thông.
Đồng chí Nguyễn Văn Ty, Cục trưởng Cục Thống kê tỉnh Nam Định.
Các đồng chí Phạm Thu Hằng, Tỉnh uỷ viên, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Trần Minh Thắng Phó Chánh Văn phòng Tỉnh ủy, Đỗ Quốc Khiêm, Trần Kha, Đỗ Xuân Tú, Phó Chánh Văn phòng UBND tỉnh.
Nghệ sĩ - đạo diễn Đào Quang, Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật tỉnh.
Đồng chí Trần Quốc Hùng, Phạm Thiện Kế, Trần Đức Dương, Phó Giám đốc Sở Công Thương.
Đồng chí Nguyễn Phùng Hoan, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Đồng chí Nguyễn Xuân Tường, Phó Bí thư thường trực Huyện ủy Trực Ninh.
Đồng chí Trần Anh Dũng, Chủ tịch UBND huyện Vụ Bản;
Các đồng chí Vũ Minh Lượng, Phan Văn Phong, Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường;
Đồng chí Ngô Thế Hùng, Đại tá, Phó Chính ủy, đ/c Trần Minh Tiến, Thượng tá Chủ nhiệm Hậu cần Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh;
Đồng chí Đỗ Thế Đại, Chánh Văn phòng, thay mặt Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch.
Đại diện Sở Giao thông vận tải tỉnh Nam Định.
Đồng chí Vũ Ngọc Doanh, Giám đốc Ngân hàng Phát triển Chi nhánh Nam Định.
Nghệ sĩ ưu tú Kiều Dư
, Giám đốc Nhà Văn hóa Trung tâm 3-2 Tỉnh Nam Định.
Đồng chí Phạm Văn Đông, Bí thư Thị ủy và đ/c Nguyễn Thanh Uyên, Chủ tịch UBND và các đ/c cán bộ Thị uỷ, HĐND, UBND thị trấn Quất Lâm, huyện Giao Thuỷ.
Đồng chí Nguyễn Anh Quế, Đoàn Hội thẩm TAND tỉnh Nam Định.
Các cán bộ lãnh đạo Đảng ủy, Ban Giám đốc, Trưởng phó phòng, đoàn thể và công chức viên chức của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Nam Định và cán bộ lãnh đạo, nghệ sĩ, gia đình, bạn bè là các anh/chị/em doanh nhân, giám đốc doanh nghiệp: Phạm Trọng Khôi (Công ty Minh Khôi), Đinh Xuân Mộc (Cty Đình Mộc), Tuyền Nam (Cty Nam Hưng), Dương Văn Hiền (Cty La Xuyên Vàng),
Phạm Văn Trí (Chủ tịch HĐQT - TGĐ Cty CP dây lưới thép Nam Định), Nguyễn Trí Thiện (Chủ tịch - TGĐ Cty TNHH 1TV Khai thác công trình thủy lợi Xuân Thủy), Đỗ Kim Định (Chủ tịch - TGĐ Cty cổ phần Nhân Bình)...
và đông đảo bạn bè, người thân xa gần của nhà thơ, với hàng chục lẵng hoa đẹp, hàng trăm bó hoa tươi, quà tặng và những lời chúc mừng thật tốt đẹp, nồng ấm ...



- Chiều ngày 26 -5 -2013, Trong chương trình Câu lạc bộ Thơ  của Ban Văn nghệ Đài Truyền hình Việt Nam với sự phối hợp của Văn phòng Thi đàn Việt Nam đã giới thiệu vài nét chân dung và một số tác phẩm của nhà thơ Phạm Quốc Khánh trên sóng truyền hình VTV1.

   Chương trình được phát lại vào 14h15 chiều thứ tư 05-6-2013 trên VTV1, được các bạn đón xem đánh giá có ý nghĩa sâu sắc.
* Sáng ngày 25 tháng 6 năm 2013, Thi đàn Việt Nam đã tổ chức thành công chương trình KHÔNG GIAN THƠ, giới thiệu Thơ Phạm Quốc Khánh với sự tham dự của các nhà thơ:
- Nhà thơ Vũ Mão, nguyên Uỷ viên BCHTW Đảng - Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, 
- Nhà báo, nghệ sĩ Bành Thông, Chủ tịch CLB Thơ Việt Nam
- Nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Kiếm, nguyên Chánh Văn phòng Bộ Kế hoạch và Đầu tư
- Nhà thơ Trịnh Trọng Quý, Phó Chủ nhiệm - Trưởng BBT Câu lạc bộ Thơ Nguyễn Công Trứ
- Nhà thơ Phạm Đình Ngọc, Phó Chủ nhiệm CLB Thơ Nguyễn Công Trứ
- Nhà thơ Đỗ Phú Nhuận, Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, Trưởng bộ môn thơ, Hội VHNT tỉnh NĐ.
- Nhà thơ Xuân Dung, Uỷ viên BCH CLB Thơ Nguyễn Công Trứ (Ngành KH & ĐT Việt Nam)
và các cán bộ nguyên là lãnh đạo các cơ quan và các nghệ sĩ:
- Ông Nguyễn Xuân Sắc, nguyên Tỉnh uỷ viên, nguyên Giám đốc Sở Giáo dục - Đào tạo tỉnh Nam Định.
- Ông Lê Cao Tuyên, nguyên Tỉnh uỷ viên, nguyên Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Nam Định.
- Nhà thơ Trần Văn Đại, Chánh Văn phòng CLB Thơ VN tỉnh Nam Định, Phó chủ nhiệm CLB Thơ VN Văn phòng Nam Định.
- Các nhà thơ Kiều Bắc, Hoàng Thị Ngọc Hồi, Hải Yến, Vũ Kiệt...  và nhiều nhà thơ từ Hải Phòng, Hải Dương, Bắc Giang, Hưng Yên cùng các bạn yêu thơ từ Hà Nội và các vùng lân cận.
- Các bạn bè và người thân của nhà thơ Phạm Quốc Khánh tới dự.
- Đồng thời có sự tham gia của các phóng viên Thành Nam, Hoài Thương của Thời Báo Mê Kông tới dự và tặng Lẵng hoa chúc mừng.
- Các Báo "Đầu tư", Tạp chí "Kinh tế và Dự báo" có điện chúc mừng.
- Đặc biệt là sự tham dự trong suốt chương trình của Nhạc sĩ Vũ Trung, hội viên Hội Nhạc sĩ Việt Nam  - người bạn đồng hành qua hàng trăm ca khúc với nhà thơ Phạm Quốc Khánh, từ đất võ Bình Định xa xôi cũng có mặt.
Chương trình thật sâu đậm, tình cảm và ý nghĩa....


- Ngày 14 - 12 - 2013 Tham gia đoàn đại biểu các nhà thơ CLB thơ Việt Nam tỉnh Nam Định dự Liên hoan trình diễn Thơ Âm vang Sông Hồng và biển đảo do CLB Thơ VN  tổ chức tại Trung tâm Văn hoá Thành phố Hải Phòng. Bài thơ "Ghi mãi công anh" đã được Ban Giám khảo đánh giá tốt và được CLB Thơ VN và BTC trao Huy Chương Bạc.

Ngày 8- 3 - 2014, tham dự cuộc thi "Phụ nữ và thi ca" do Thi đàn Việt Nam tổ chức tại Nhà khách Chính phủ;

 Ngày 20 - 3 - 2014 tham dự cuộc thi sáng tác thơ ca về Tiến sĩ, Đại tướng, Binh bộ Thượng thư Phạm Đình Trọng nhân kỷ niệm ngày sinh thứ 300 của Cụ. Bài thơ "Vẻ vang Phạm tướng Quốc công" do Nhạc sĩ Vũ Trung phổ nhạc và trình diễn công phu, được người xem khen ngợi, mến mộ. Bài thơ được Giải thưởng của Ban tổ chức.
  Tháng 5 - 2015, tham dự chương trình "Tiếng thơ vọng mãi" do Thi đàn Việt Nam và Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV) tổ chức tại khu du lịch Cúc Phương tỉnh Ninh Bình.  



 TÂM SỰ VỀ THƠ:

...  Nảy  từ  đất  mẹ  quê  cha
Nở  ra  ngan  ngát   cánh  hoa   bốn  mùa
Hương thơm theo gió xa đưa
            Hòa chung nốt nhạc hồn thơ dâng đời...

* * * * *




CẢM NHẬN VÀ PHÊ BÌNH:



* NHÀ VĂN VƯƠNG BẢO :


Tình trong thơ “mắt ai lọt sắc yếm đào”
                        
PHẢI LÒNG
                               
Phải đâu tấm lưới em đan
Quăng chao khắp chốn bến làng, sông quê
Bởi chưng môi thắm tóc thề
Cỏ may vương áo bờ đê hôm nào
Mắt ai lọt sắc yếm đào
Buộc hồn buổi ấy theo vào bến mơ.

                          Phạm Quốc Khánh
                              (Trích trong tập thơ “Thu mong manh”
                               Nhà xuất bản Hội nhà văn-Trang 44)

     Lời bình: Vương Bảo
(Quý tặng tác giả Phạm Quốc Khánh)                                             

    Tôi đã gặp anh một lần. Nhưng hơn một lần với bao ấn tượng đẹp và ấm áp về anh. Anh là Phạm Quốc Khánh. Được đọc tập thơ “Thu mong manh”
Với gần một trăm thi phẩm - càng hiểu hơn về cõi lòng anh. Đó là con người có trái tim đa cảm dồi dào sức sống.

       Chỉ một bài thơ “Phải lòng” mà biết bao sợi tình vấn vít. Đây là một cặp lục bát khởi nguồn:
                               Phải đâu tấm lưới em đan
                          Quăng chao khắp chốn bến làng, sông quê”

    Trai thanh, gái lịch, anh và em gặp nhau biết bao điều muốn nói. Nhưng làm sao mà nói được. Chỉ có thể “…đứng ở đằng xa, con mắt liếc lại…” hay “Mận mới hỏi Đào…”.Còn “Tấm lưới em đan”, em chẳng phải là thương nhân, không phải là thợ của một làng nghề. Mà hình ảnh “tấm lưới em đan” chỉ là một cách nói rất mỹ miều đy chất thơ. Đó là hình ảnh tượng trưng khái quát. Bởi từ trái tim em rút những sợi tơ lòng đặt nên khuôn đan dệt của thời gian để tạo nên tấm lưới vô hình “quăng chao” đến mọi không gian ở “bến làng, sông quê”.
     “Bến làng”và “sông quê” những hình ảnh chân thực. Đây là nơi thuần khiết của quê hương. Nơi của bao cuộc tình hò hẹn. “Bến làng”, “sông quê” đã giúp ta trưởng thành từ thuở thiếu thời đến khi ta lớn khôn. “Tấm lưới em đan” cực kỳ nhạy bén, có thể đánh bắt được tt cả những gì cần bắt. Lưới em đan là lưới vô hình đã chăng ra thì biết bao cơn sóng gió của bão lòng phải dừng cấp độ.
      Và đây chỉ là một sự phỏng đoán: Anh biết em, hiểu em đã lâu nên mới khẳng định “Phải đâu”chứ không phải “Biết là”, “Chính là”, “Đúng là”…
     “Phải đâu”là lời thanh minh khách quan, trung thực cho những sự hiểu nhầm. Sự hiểu nhầm nhiều khi đưa ta đi từ thất bại này đến thất bại khác, nhất là hiểu nhầm trong ái tình thì hậu quả khó lường. Chẳng phải em đan lưới để đánh bắt tình đâu nhé!
            Hữu xạ tự nhiên hương, cái đệp đến là tự nó đến:
                               Bởi chưng môi thắm tóc thề
                          Cỏ may vương áo bờ đê hôm nào
    “Môi thắm tóc thề” một biện pháp nghệ thuật hoán dụ, bộ phận để nói toàn thể. “Môi thắm”là làn môi đẹp, không cần dùng mỹ phẩm trang điểm hay mỹ viện sửa sang mà bản thân nó đã có màu sắc dịu dàng. Đây là một người khỏe mạnh, đầy tư chất thông minh, nhanh nhạy. “Tóc thề” là tóc đẹp của một tâm hồn trong sáng. Mái tóc như một tuyên ngôn của tình yêu (ngày xưa khi đã thực sự yêu nhau thì họ cắt tóc trao cho nhau để làm lời thề). Một khi đã yêu thì quyết một lòng dù cho sông cạn đá mòn, năm tháng chờ đợi cũng một lòng chung thủy “Tóc thề đã chấm ngang vai/Nào lời non nước, nào lời sắt son”-Truyện Kiều. “Tóc thề” còn là một hàm ngôn với ý là vậy! “Bởi chưng” của câu thơ lại là lời khẳng định cũng rất khách quan cho một nhận định chủ quan duy nhất đúng. “Phải đâu” là một thanh minh thì “Bởi chưng” là một khẳng định!
       “Cỏ may vương áo bờ đê hôm nào. Hình ảnh “cỏ may” là một hiện thực nhưng cũng là một ước mơ. Cỏ may biểu tượng của cuộc tình còn dang dở chưa có sự kết nối. “Có phải hồn anh hoa cỏ may”(Vũ Minh Châu), “Hồn anh như hoa cỏ may/Một chiều cả gió bám đầy áo em”(Nguyễn Bính). “Hoa cỏ may vương áo” chính là sợi tơ lòng  vương vấn. Sợi tơ lòng “cỏ may” ấy mới gần đây thôi, hình như hôm qua, hay hôm kia… nó là hôm nào”, thời gian gần lắm, không gian cũng ở chỗ rất mộng đó là  “bờ đê”. “Cỏ may vương áo” là hạt mầm của tình yêu, là sợi tơ lòng của trái tim dội lên bao nhịp đập.
      Thế rồi tình cảm ấy lại thăng hoa:
                                Mắt ai lọt sắc yếm đào
                           Buộc hồn buổi ấy theo vào bến mơ.
  “Mắt ai” chẳng biết là mắt ai nữa. Nhưng ai là từ nói trống thế mà lại rất cụ thể không nói trống. Ai là nàng thơ, là nhân vật trữ tình trong thi phẩm. Sắc yếm đào là hình ảnh tượng trưng cho người con gái đẹp, là em. Mắt ai chính là mắt anh, cửa sổ tâm hồn của anh. Vậy là em dã ghi nhận bóng dáng anh, trong trái tim em đã lọt rồi đó. Còn anh đã được Buộc hồn buổi ấy theo vào bến mơ. Cuộc sông là tươi đẹp. Cuộc sống có bến mơ nhưng cũng có bến thực. Mơ và thực có khoảng cách xa vời vợi nhiều khi thực và mơ không ăn nhập với nhau. Nhưng thực bao giờ cũng là sân đỗ của mơ. Bến mơ của anh đã có chỗ neo đậu. Đó là trái tim của Sắc yếm đào. Cặp lục bát kết thúc thi phẩm Mắt ai lọt sắc yếm đào/Buộc hồn buổi ấy theo vào bến mơ là một nút mở để toàn thi phẩm bừng sáng, cho trái tim chứa đầy bí mật  của em và của ai được thênh thang rộng mở. Cùng là một tiếng reo vui: Thế là môi thắm tóc thề đã theo vào bến mơ.
       Người xưa đã nói: Tình yêu không có lỗi, lỗi là do hai người yêu nhau mà không biết đến hai chữ Vì nhau. Bài thơ Phải lòng của Phạm Quốc Khánh là bài thơ tình.  Xuyên suốt thi phẩm là những từ có giá trị khám phá phải đâubởi  chưng những hình ảnh có giá trị tu từ đẹp bến làng, sông quê , những sắc thái tình cảm chân thực môi thắm tóc thề, bến mơ… tất cả đã minh chứng cho một mối tình đẹp họ đã “vì nhau nếu mai này tổ ấm ấy được  dựng xây .
         Cám ơn tác giả Phạm Quốc Khánh dã cho tôi được thưởng thức một thi phẩm đẹp và thơ. 
                         Hải Phòng, ngày 14/10/2016
                 Vương Bảo
                       ĐT :0932.297.399
                          Email: Vuongbao1938@gmail.com 



*
*              *



* NHÀ GIÁO ƯU TÚ - NHÀ THƠ TRỊNH PHAN BÍCH:     

             KHẮC KHOẢI MIỀN YÊU…




       Hân hạnh chào đón bạn đến với “Thu mong manh”, tập thơ thứ hai của nhà thơ Phạm Quốc Khánh; 
        Nếu như “Hoa của Đất”, tập thơ đầu tay viết cho mảng rộng của rất nhiều đề tài với cấu tứ đơn giản, ngôn từ chân chất, mộc mạc, ít trau chuốt thì “Thu mong manh” là sự chuyển hướng khác biệt đến bất ngờ - chuyên về thơ tình - của nhà thơ. Vì thế, nếu vừa đọc xong “Hoa của Đất”, chuyển sang với “Thu mong manh”, bạn có thể cảm thấy như mình bị lạc vào mảng văn chương mới hay đang đến với một tác giả hoàn toàn khác. Điều đó tạo cho bạn một cảm giác thú vị khi được trải nghiệm sâu về góc cạnh cảm xúc mới của cùng một tác giả!
“Thu mong manh” thật là tình! Bởi hồn thơ, dáng chữ mênh mang, lai láng, ý tứ, giai điệu có sự ám ảnh, đa dạng của cảm xúc với nhiều cung bậc mấp mô, thăng trầm, hệt như một cuộc tình đời.
“Thu mong manh” của nhà thơ Phạm Quốc Khánh, cảm giác dường như cuốn nhật ký cảm xúc cuộc đời ghi lại những buồn vui trong tình yêu bằng thơ…Và có lẽ vì thế mà thơ anh hồn nhiên, dung dị, thầm thì như đang nói với chính mình, nói với trái tim mình, với người thương yêu nhất của mình vậy!
“Thu mong manh” mang chất nhân văn và tình thương bên niềm yêu say đắm khiến cho câu chữ lắng sâu mà vẫn lấp lánh, chứa chan hơi ấm của một trái tim chân thành, gần gũi mà thắm thiết, nhỏ nhẹ và tinh tế !
“Gặp em” anh đã “Phải lòng” “Buộc hồn buổi ấy theo vào bến mơ” và rồi trái tim anh thổn thức, điều cần nói đến lúc đã phải thốt lên lời để “ngỏ điều trăm năm”:  
“Thuyền tình vẫn lững lờ trôi
Bến yêu có đợi, anh xuôi neo bờ”
                   (Ngỏ điều trăm năm)
Trái tim đằm thắm, nồng ấm ấy luôn tràn đầy khát vọng mà cũng vô cùng khoáng đạt và lãng mạn:
“Ước mình là chiếc thuyền trôi  
    Cùng em góc bể, chân trời lênh đênh”
hay:
“Vành trăng – thuyền giữa ngàn sao
   Bến thơ chắp những khát khao làm chèo”
                                      (Bến thơ)    
Khao khát, ước ao nhưng khi mà lời tỏ tình chưa được đáp lại thì tránh sao được những nỗi suy tư :
“Chợ tình ai bán mà mong
Ta xin gói chặt cho lòng khát khao”
                                (Ngẫm)
Giữa lúc nóng lòng chờ đợi ý trung nhân, thấp thỏm đến bồn chồn thì niềm khát khao, ao ước của chàng trai ngập đầy thi vị, lãng mạn lên đến tận cùng:
 “Ngắt  nhành  mây  giữa  trời  cao
Chuốt  thành  cây  bút  mang  vào  đề thơ”

                                 (Hồn bút)
để rồi khát khao hòa với mong đợi cứ cồn lên bao hình ảnh nhớ nhung ham muốn đầy gợi cảm:
“Nắng  vàng  vuốt  ngực  sông  mơ
Vẽ   nên   giấy   gió   trao  chờ   ý  ai”
                               (Hồn bút)
Và khi đã nên tình thì  anh yêu say đắm, hết mình nhưng cũng thật êm ái dịu ngọt như những hạt phù sa thầm lặng đêm ngày bồi đắp nơi bến bờ yêu: “Phù sa này mãi đắp bồi bờ em”.
Thiết tha đắm ngọt, bồi đắp, dâng hiến vì người yêu, vì tình yêu, đó là đặc trưng nhân văn, cao đẹp và trong sáng, đúng với nghĩa “sống là cho, đâu chỉ nhận riêng mình”. Bồi đắp, dâng hiến cũng là lời dặn dò tha thiết, lời khuyên, lời ước hẹn bên tiếng gọi chân thành, sâu lắng:
“Trên dòng bèo dạt, mây trôi
  Phù sa này mãi đắp bồi bờ em”
                           (Phù sa)
Chẳng mấy cuộc đời không sóng gió, chẳng có tình yêu nào là bình lặng. Mà ở đời này, tình yêu càng đẹp càng lắm trái ngang, éo le. Cuộc tình trong “Thu mong manh” cũng không ngoài điều đó. Bởi tình yêu là nghiệt ngã, chẳng khác nào con tốt trên bàn cờ, khi đã qua sông cũng đồng nghĩa với việc dấn thân đi mãi, chẳng còn có dịp nào quay trở lại, chỉ còn cách đứng bên sông ngậm ngùi nhìn về chốn xưa mà ngẩn ngơ buồn nhớ về một thời xoan tím, khi:
“Phố phường thay tấm áo nhung
  Cây bàng xanh cũng bỗng dưng nhuốm vàng”
                       (Đất trời thay áo)
Đúng là có nỗi đau không nói hết bằng lời, như giữa sa mạc mênh mông biết đến khi nào ta đỡ khát và lại có cả những niềm vui không thể hát mà cứ âm thầm lặng lẽ lặn vào tim.
Càng buồn, anh càng khao khát yêu. Yêu mãnh liệt, yêu hết mình, yêu bừng bừng như đứng trước lò nung, yêu tan chảy như biển băng mùa xuân đến. Vừa muốn đem cho, lại vừa muốn tan ra!
“Niềm nhung nhớ chảy tràn sông ký ức
Cùng mơ về chung bến bờ yêu”
hay:
“Muốn chắp cho mình thêm đôi cánh
   Mọi khoảng không tan biến dưới tầm bay”
                                  (Đôi cánh tình yêu)
Khao khát một bến bình yên mà vì nghĩa đời, thuyền cứ mãi lênh đênh ngoài giông bão. Thuyền xa bến, nỗi buồn một mối tình còn chưa trọn, những cuộc hẹn hò còn lỡ dở mà cội nguồn của sự ly biệt ấy lại không thuộc về chủ thể, nhưng vẫn hẹn hò:
 “Một tấm lòng cứ tươi như xuân gọi
            Lại  về  bên  em  bến  đỗ  tình  yêu.”
                               (Tình anh)
Anh còn khao khát yêu là vẫn còn hy vọng, còn đợi chờ, muốn dâng hiến và còn mãi mãi một niềm tin! Bởi anh còn làm thơ là còn rất yêu đời, mặc dù thuyền đã trôi ra biển cả còn bến thì vẫn đứng đợi chốn xa… Nhưng tình yêu ấy vẫn thật nồng nàn, mênh mông, như những kỷ niệm cứ dày lên với muôn ngàn nụ hồn đằm thắm, chẳng khác nào sóng biển và bờ cát qua năm tháng cứ dạt dào, bất tận:
“Chuyện tình biển, cát, nhớ, quên
Biển âu yếm cát , hôn lên sớm chiều”
                                  (Từ biển)
Trong “Thu mong manh”, nhiều khi “người bạn tình” hiện lên như một cô gái duyên dáng, đáng yêu vô cùng, nhưng dường như có lúc lại phảng phất một dáng kiều thướt tha trừu tượng vừa xinh như mùa xuân, vừa lãng mạn như mây, như gió mà anh yêu đắm đuối và gọi là “Nàng thơ” :
“Cây tình nảy những hoa đời
  Xuân tô môi thắm nét cười nàng thơ”
hay:
“Thơ tình mang thả vào trăng
Để  cho  rớt   cái  tình   bằng  của  ai
 Mong manh đêm mộng ru hoài
Chuốc về nông nổi dáng ai thẫn thờ”
                               (Mộng thơ)
Trong chập chờn cơn mơ ngủ, bên cửa của giấc mộng thường gặp được những cảm xúc, những ấn tượng mơ mơ, tỉnh tỉnh, những hình ảnh sâu lắng thật khó phai:
“Khép hờ một giấc ngủ trưa
Gối   êm   nghe  đủ  cái  vừa  hôm  qua
  Góc  sân  cành  khế  la  đà
Còn bao nhiêu thứ … treo mà lặng im”
                            (Khép hờ)
 Và rồi khi nhận ra cả cuộc tình tan theo giấc mộng thì người yêu bốc lửa trong cuộc tình bừng cháy đầy nhiệt huyết và lãng mạn ấy chỉ còn biết tần ngần nuối tiếc mà thôi:
“Bên đời là cả trời xuân
Riêng ta còn chút tần ngần cầm tay”
                                      (Nỗi niềm tháng Ba)
Điều đó cũng hợp với lẽ “tình chỉ đẹp khi còn dang dở…” và sẽ càng đẹp hơn nếu nó là tình trong mộng, đúng như bài mở đầu của tập thơ này:
“Bên  kia  cả  một  dòng  xuân
Mà sao chẳng cập một lần biếc xanh
  Tím chiều thu  vẫn mong manh
Hồn giông bão đỏ, than thành lá bay…”
                      (Thu mong manh)
Và cho dù là đẹp như mộng, có như thế nào đi nữa thì “khắc khoải yêu” vẫn là âm hưởng chính như dòng sông xuyên suốt chảy qua “Thu mong manh”. Luôn luôn cháy lên niềm tin ở tương lai, vượt lên thử thách để giữ trọn tình yêu, mặc cho tất cả những sóng gió cuộc đời xô đẩy …Đúng như lời kết của tập thơ:
“Tình  ai  con  sóng  xa  vời
Niềm tin trôi giữa bể đời gieo neo
         Phong ba chẳng buộc dạ nghèo
    Tình sâu chọn một mái chèo trăm năm”
                   (Giữa bể đời)
Xin cảm ơn nỗi khắc khoải đáng trân trọng đó, bởi chính nó làm nên nguồn cảm hứng vô tận cho những câu thơ hay làm xúc động lòng người, thúc giục con người khát khao muốn sống và vươn tới những điều cao đẹp – đó là: tình yêu! Đấy cũng chính là thành công căn bản của tập thơ.

Điều đặc biệt muốn chia sẻ cùng bạn, đó là thơ Phạm Quốc Khánh rất có duyên với nhạc! Rất nhiều bài thơ của anh đã hóa thân vào nốt nhạc bài ca, được trình diễn ở khắp miền Tổ quốc. Đã có hơn trăm bài thơ được các nhạc sĩ Vũ Trung, Vũ Tuấn Hội phổ nhạc và có trên chục bài đã dự thi và đạt giải cao tại các cuộc thi sáng tác ca khúc ở Trung ương và địa phương.
Trên thực tế, nhà thơ Phạm Quốc Khánh là người học tập và lao động không mệt mỏi. Vốn sống của anh với 43 năm phục vụ trong Quân đội và cơ quan Nhà nước, anh tâm sự: Cuộc đời anh đã từng có 10 năm làm thầy giáo nhưng có tới 24 năm làm học trò … Đến nay tuy đã rời trọng trách Bí thư Đảng ủy, Phó Giám đốc của một Sở tham mưu tổng hợp cấp tỉnh để về với đời thường mà anh cũng chẳng hề rảnh rang, bởi bao công tác xã hội lại ập đến, nhưng dù bận đến mấy anh cũng không bao giờ xa thơ. Anh viết rất khỏe, viết không mệt mỏi và không ngần ngại, không từ nan bất cứ đề tài nào. Vì thế, tập thơ “Thu mong manh” là tập thơ tình không chỉ bất ngờ đối với bạn mà bất ngờ ngay cả với các bạn thơ gần gũi nhất khi thoạt nhìn thấy từ tay tác giả tập bản thảo của nó.
Cho dù là thế, ta cũng không khỏi xuýt xoa: Nếu như ở đâu đó, một đôi chỗ trong một vài bài có vài câu chữ mà anh cố gắng suy ngẫm, gia công, chọn lựa được những từ ngữ tinh tế, sâu lắng hơn, tạo ra những ý, những câu từ hàm ngôn đa chiều bóng bảy hơn, biết đâu có thể tạo nên những đỉnh sáng đích thực của thơ ca thì sự thành công chắc sẽ còn đầy đặn hơn.
Những điểm mạnh và hạn chế nói trên của tập thơ, hẳn khi đọc bạn sẽ cảm nhận sâu sắc và thấu đáo, bởi thế cũng không cần nhắc quá chi tiết trong phạm vi một bài giới thiệu ngắn ngủi này.


Trước khi tạm biệt để trao lại những dòng tâm tình của chính tác giả tới bạn, xin trích lời của Nhà báo - Nghệ sĩ Bành Thông, Chủ tịch Câu lạc bộ Thơ Việt Nam nói về thơ Phạm Quốc Khánh để thay cho lời kết: “Tôi thích thơ của Phạm Quốc Khánh… chân thực và giàu nhạc điệu.”



Trân trọng
mời bạn đến cùng “Thu mong manh” !



Nhà giáo – Nhà thơ 
TRỊNH PHAN BÍCH
Chủ tịch CLB thơ Đường Nhà Giáo 
Tỉnh Nam Định





* Tập thơ thứ ba: "ƯỚC VỌNG XANH"
Với NXB Hội nhà văn, nhà in Cty CP in KHCN Hoàng Quốc Việt, tập thơ thứ ba "Ước vọng xanh" 130 trang, khổ 14,5 x 20,5 cm đã hoàn thành. Xin trân trọng đăng lời giới thiệu của TS. Nguyễn Xuân Năm, nguyên Tỉnh ủy viên - Giám đốc Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch Tỉnh Nam Định:


ĐẾN CÙNG “ƯỚC VỌNG XANH”



Bạn thân mến,      
      “Hoa của đất” nở đâu đây
“...mong manh” sương mỏng đong đầy mắt “Thu...” 
       Võng chiều rong giấc mù u 
  “Ước vọng xanh” chở lời ru ... sang mùa ...
 Đó là cảm nhận của tôi khi là người đầu tiên đọc trọn 3 tập thơ của anh. Vâng, cứ tạm coi như thế - bởi tôi là người bắt gặp tập thơ “Ước vọng xanh” - tập thơ thứ ba của nhà thơ Phạm Quốc Khánh, một cuốn bản thảo hoàn chỉnh, vừa được cấp phép trên đường chuyển đến nhà in.
“Ước vọng xanh” là sự lột xác khác biệt và là sự hóa thân rất riêng. Thơ “Ước vọng xanh” được tác giả chia làm hai phần: “Tình... thơ...”“Nghĩa đời”. Trong “Phần II- Nghĩa đời” có nhiều chủ đề giống như tập thơ “Hoa của đất” nhưng nó đã vượt qua sự thô ráp, mộc mạc, chân chất như hơi thở thợ cày, thợ cấy và câu hát của người lính trận để đi sang mùa hội nhập, ráng theo kịp làng thơ thời mới hôm nay, dường như nó trau chuốt và bóng bảy hơn. Sự hóa thân riêng của “Ước vọng xanh”, đó là trong “Phần I – Tình... thơ...” là thơ tình gần như chủ đề chính của “Thu mong manh” nhưng đa dạng hơn cả về đề tài, cung bậc nội dung và thể loại.
Có thể nói “Ước vọng xanh” là tiếng nói khá toàn diện về các góc cạnh tâm hồn của nhà thơ Phạm Quốc Khánh, không chỉ riêng sự cảm nhận xung quanh, không chỉ thuần túy là tâm tình yêu đương một cõi lòng mà nó như  chính cuộc sống hòa quyện cùng cảm nhận sẻ chia vui buồn trong khung cảnh trời mây, non nước, bên bè bạn, gia đình, từ cuộc sống làm ăn tới mối quan tâm của xã hội, từ cơn mưa dòng lũ đến sự hưng thịnh vui buồn cùng non nước quê hương...
Ta hãy xem anh nói gì khi mở đầu tập thơ này:
    Gom chiều dệt những ước mơ 
Còn đây vương một nhành tơ mát lành 
      Khoang thuyền ngan ngát tình anh 
 Chở mênh mang ước vọng xanh tặng nàng ...”
                  (Ước vọng xanh)
Một cán bộ đã rời chiếc ghế công vụ ở cái tuổi sang chiều, nhưng vẫn đầy ắp khao khát, ước mơ. Với trái tim “ngan ngát tình” anh vẫn gửi gắm tất cả “ước vọng xanh”  trao cho một “nàng thơ” đầy yêu dấu. Có lẽ đây là bến đỗ anh chọn và dành cho nàng cả sự mênh mang hầu như bất tận ...
Thế rồi, đời luôn đầy mâu thuẫn. Anh vừa mới bùng lên cái sôi nổi của tâm hồn lại chợt thoáng ... e dè, bởi thơ là sự nghiệp chưa bao giờ đơn giản. Khát vọng thì lớn, sức xuân thì vơi, nguồn lực cũng không nhiều, khiến anh một thoáng đắn đo:
       “... Bài thơ anh ngắn quá
              Biết nói điều gì đây”       
                                              (Qua mùa)
hay:     “Thơ tôi buồn lắm người ơi
       Cứ vơi đến cả những lời yêu thương...”
      (Thơ tôi)
Cái điều trăn trở ấy, chẳng chỉ riêng anh, một chuyên viên cao cấp đã giã từ chuyên môn đổi lấy vật chất đơn sơ là hồn thơ bát ngát, cũng như nhiều nhà thơ khác, khi hòa nhập vào dòng chung cũng đều gặp phải. Hãy xem hàng ngày các nhà thơ đã nuôi sức sáng tạo cho thơ bằng những đặc sản gì:
    “Món ăn, thuốc quý làm quà       
Yêu nhau, mời bạn chỉ là Xuyến Chi!”
            (Món quà thi sĩ)
Đấy, thứ quý bạn thơ mời nhau chỉ là rau xuyến chi, nó thực sự là một loài cỏ dại mọc khắp bãi bờ mà cũng thành tiệc, thành bữa và còn nên tình, nên thơ nữa chứ!
Và cho dù như thế nhưng khi bước vào thơ thì như quên đi hết mọi giới hạn, đầy hết mọi vơi cạn, chỉ còn một tâm hồn bay bổng. Có lẽ điều ấy cho ta thấy, chính anh cũng đã lột xác từ một công chức có chút “quan tước” thành một thi sĩ thực thụ:
      Dạ lan, hoa gạo thắp nhiều              
 Thu buông thả tím những chiều ngẩn ngơ...”
           (Bông gạo)
Vướng vào vòng tình ái thì đến bao giờ cho hết dại khờ, bởi thế anh tự nhận, tự thú mà lại như không có chuyện gì, chỉ có điều tiếc là tuổi trẻ đang qua mà hoài niệm tình ái thì vẫn như còn mới tinh:
"Tưởng mình đã hết dại khờ
Nên tiêu hoang, thả thẫn thờ mùa đi”
                                      (Tưởng)
Như nhiều nhà thơ khác, anh tự xưng là người “dại khờ” và muôn thủa chẳng biết bao giờ mới hết những dại khờ. Nhưng chúng ta hãy xem, cái dại khờ của anh trước một cô gái làm anh xao xuyến muốn tỏ tình mà đành phải giấu lòng nên ngỏ ý “xin”. Thứ anh xin mới lạ làm sao, nó nhỏ vô cùng, nhưng kỳ lạ, nếu như đã cho thì chắc là sẽ ... cho tất cả, bởi một người mà ngày nào cũng nhớ một phút thì ắt là phải nhớ cả đời mất thôi:
“... xin em chút bồi hồi
 Mỗi ngày dành một phút ngồi nhớ anh”.
                           (Xin)
Đấy là đôi nét về thơ tình của “Tình...thơ...”
Còn đây, khi đối mặt với những ngang trái của thương trường, anh lại tỏ một thái độ bất bình khác hẳn. Phải chăng đấy là cái chất của con người quá nửa đời làm những phận sự quốc gia nên trách nhiệm đấu tranh ngăn chặn cái xấu, cái ác còn nguyên vẹn trong anh. Anh muốn vạch mặt bọn gian thương chỉ biết thu đồng tiền mà bất chấp lợi ích xã hội và những tổn hại gây ra cho người tiêu dùng. Anh ước muốn cái máy soi mã vạch tính tiền ở siêu thị cũng soi luôn lòng dạ và bộ mặt gian xảo của kẻ kinh doanh gian dối:       
   “Mặc mưa nắng chính tà thông
Săn “thặng lưa” gian diện cho phơi...”
                                        (Siêu thị...ước ao)
Nhưng cuộc sống muôn màu muôn vẻ, pha tạp, khiến cho người đi cũng đầy những đắn đo: 
“Ta nhòa nhạt giữa hai màu đen trắng
Biết chọn bước nào trong khoảng trống mông mênh…” 
(Khoảng trống)
Và đây, lại là một tâm trạng trân trọng xót thương trước sự hy sinh quả cảm của những đồng đội mà suốt hơn bốn chục năm đất nước mới tạo được cơ hội xây nơi hương khói để tri ân các liệt sĩ tại Trạm thông tin A69 Quảng Bình năm xưa: 
“Trầm hương gọi bạn về trong tưởng nhớ
Những linh hồn xuân bên non nước là xuân...”
(Lèn Hà ấm khói hương bay)
Sự đau thương xúc động đối với những con người ngã xuống vì những nghĩa cử cao đẹp như các chiến sĩ hy sinh khi làm nhiệm vụ trên máy bay Su-30 hay CASA- 212:
“Sóng nhòa, mây cũng ngẩn ngơ
 "Ngày gia đình" đến thẫn thờ xót đau”
  (Ước nguyện của anh)
 Và với các em nữ sinh viên đang độ tuổi thanh xuân mười chín, đôi mươi vô cùng đẹp đẽ chỉ vì cơn lũ bất ngờ ập về cuốn trôi khi các em làm thiện nguyện cứu giúp người nghèo ở Bình Liêu - Quảng Ninh: 
“Khác gì chiến trường người chiến sĩ hy sinh
...Cả triệu tấm lòng tiếc thương nhung nhớ
Tổ quốc ôm em - niềm khát vọng mùa xuân...”
           (Những tâm hồn sống mãi)
 Còn  đây là sự cảm phục trước một tấm gương đời, qua một nghĩa cử nhỏ mà đầy sức giáo dục. Tiếc là hôm nay, khi mà xã hội cứ xôn xao chuyện cất nhắc con cái, người nhà vào ghế này, ghế nọ, làm anh không khỏi ngậm ngùi:
“Người đi, gương ấy ... ai soi
Bói tìm quá nửa kiếp người chẳng ra ...”
                     (Gương đời)
Luôn tôn trọng phẩm hạnh và nghị lực của mọi người, anh càng khâm phục những người ít may mắn đã sống thật phi thường, vượt qua số phận, lao động không mệt mỏi, quên đi bất hạnh của chính mình để chung sống với đời, cống hiến cho đời mà nhà thơ Phạm Minh Giắng là một hiện tượng có thể ví như một “huyền thoại”:
          "Hòa lệ đời viết truyện cười
     Làm giàu văn hóa, tình người Việt Nam"
                          (Một cuộc đời thơ)
Khi đứng trước những điều khẩn thiết bức xúc vì sự đòi hỏi của cuộc sống, của nhân dân mà những nhà chuyên môn, những người có chức trách quá chậm trễ chưa đáp ứng được:
               Tấm áo xưa, cũ lắm rồi 
        Sáu mươi năm ấy, ai người mặc đây”
và:               “Nợ này tính toán thế nào 
               Bao giờ trả nợ đồng bào, nợ ơi !”
 (Gửi nhà “làm” Luật)
Đất nước đã qua mấy chục năm đổi mới, doanh nghiệp, doanh nhân đang dần tiến tới đúng vai trò vị trí của họ, bởi họ chính là động lực đưa đất nước lên giàu mạnh. Tuy nhiên, sự thiếu hoàn thiện của hệ thống pháp luật lại đang làm khó cho bước tiến của họ:
       “Đáp lòng chờ đợi doanh nhân
   Xin mau có Luật để dân được nhờ …”
Có lẽ vì những điều ấy mà dù có vui đến đâu thì nỗi canh cánh trong lòng anh cũng không thể tan đi hết: 
“Nỗi buồn bóc vỏ còn cay
Trái tim rụng giữa ban ngày, khổ chưa”
                          (Nỗi buồn bóc vỏ)
Hiến pháp mới ra đời và công cuộc cải cách tư pháp đang đặt ra đòi hỏi về sự công bằng xã hội phải được đáp ứng trong mọi hoàn cảnh. Đây là yêu cầu cao đặt ra cho Tòa án nhân dân phải nỗ lực rèn tâm đức phẩm hạnh và nâng cao năng lực để xứng đáng với niềm tin và sự trông đợi của xã hội:
      Phẩm chất đứng ở hàng đầu
Công tâm, trí tuệ phải đâu dễ tìm 
      Án đường – bến đỗ niềm tin 
 Xử điều không luật mà êm mới tài ...”
                                     (Vì lẽ công bằng)
Phía Nhà nước thì cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật làm cơ sở vận hành của cả xã hội. Ngành Tòa án phải nâng cao phẩm chất, tài năng để giữ cán cân công lý, bảo đảm công bằng xã hội. Các doanh nghiệp thì phải tự nâng cao uy tín và thương hiệu để đủ sức vươn ra thị trường quốc tế nhằm cạnh tranh thắng lợi và hiệu quả. Anh đã thôi thúc các doanh nhân:     
         Giấc mơ chinh phục mạnh giàu 
Thanh gươm "thương hiệu"  bỏ đâu không mài?”
                            (Mài thanh gươm báu)
Về với đời thường, làm bạn với thơ, lại phải đảm nhiệm trọng trách đứng đầu một câu lạc bộ thơ cấp tỉnh nên anh luôn phải đụng chạm đến việc lo đồng tiền, bữa cơm cho những cuộc sinh hoạt, giao lưu thơ, lo kinh phí tập huấn, bình thơ, in ấn xuất bản, vì đa số hội viên là các nhà thơ nghèo nên anh hết sức cảm thông với công tác vận động các nguồn tài trợ để nuôi dưỡng nguồn thơ, hội thơ mà người đời vẫn thường ví von bằng câu “xấu mặt kẻ xin tương”:
" Nhớ em, anh tặng đôi vần
     Quà tương em chấm mấy tuần, vẫn ngon! ...
                                     (Xin tương)
Trên đây chủ yếu chúng ta bàn về nội dung tập thơ, nếu để ý kỹ hơn, ta sẽ thấy tác giả Phạm Quốc Khánh đã nhận ra và khắc phục được những hạn chế về chất lượng nghệ thuật của hai tập thơ trước. Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ hoán dụ, ẩn dụ trong “Ước vọng xanh” đã có bước tiến đáng kể. Hãy xem, trong thơ anh “đᔓsóng biển” cũng rất có hồn: 
“Hòn Chồng nước mắt cũng rơi
Lô nhô tựa những dáng người song nghiêng
Sóng âu yếm cát rất hiền
Đá ngây người ngắm bao miền đắm say”
                          (Nha Trang... nỗi nhớ)
Còn đây, trước những nhân tài của một vùng đất khiến cho muôn ngàn tinh tú cũng ngất ngây cùng với đáy hồ:
“Văn võ Thiên Trường lừng bốn biển
Một trời tinh tú ngả nghiêng say ...”
                       (Hồ Vị Xuyên)
         Rồi sự liên tưởng lại tự đến, cứ như thơ từ trời cao tìm về vậy:
    “Nửa xanh nửa bạc bất ngờ
Vờn mây vẫy gió gọi thơ trên trời…”
                                   (Tóc vờn)
Và mời bạn nhấm nháp vị cà phê để cảm nhận cùng anh:
   Hương nào ngát cả không gian 
Tu qua kiếp đắng giấu ngàn dịu thơm …”
                       (Đắng nhớ)
Còn ở đây, những câu thơ chân thực cao độ mà thơ mộng, sâu sắc vô cùng:    
     “Những câu thơ dẫn lối
      Bão tố ...làm hành trang.”
(Điều còn)
Cùng với chất tượng hình được đẩy lên đẹp và thật ám ảnh:
“Trái thơm, thoang thoảng hương nhài
Ươm tình thắm sắc đem cài ngực xuân ...”
                   (Sợi tơ vương)
Còn câu thơ dưới đây, ngay khi gấp sách vào thì tư duy của bạn vẫn cứ bị níu kéo lại thật khó gỡ:
   “Nhẹ nào kẻo chuông lại ngân
Khẽ xem có thủng... một lần thỉnh em...”
                                         (Nhập ngày)

Có thể nói “Ước vọng xanh” là tập thơ mới với chủ đề rộng nhưng rất tình, có sự bứt phá cả về nội dung và nghệ thuật. Chúc mừng tác giả Phạm Quốc Khánh với đứa con tinh thần thứ ba này và mong anh mãi mãi tràn trề cảm hứng, dồi dào bút lực, tiếp tục dâng đời những áng thơ đẹp.

Dầu sao người viết những lời này cũng không phải là nhà thơ nhưng rất yêu thơ và ít nhiều biết cảm nhận về thơ, vì thế bài viết này có thể chưa thật thấu đáo đến từng chi tiết giá trị sâu kín của tập thơ. Tôi vô cùng trân trọng đứa con tinh thần của nhà thơ Phạm Quốc Khánh, muốn được giới thiệu với bạn yêu thơ gần, xa...

Hy vọng bạn sẽ không uổng công khi đọc tập thơ này, cho dù chắc chắn nó cũng còn những nhược điểm mà tác giả đang đón đợi những lời bình phẩm chân thành từ nơi bạn.



                                             
Thân ái,




        TS. Nguyễn Xuân Năm

                Nguyên Tỉnh ủy viên – Giám đốc 
                 Sở Văn hóa – Thể thao – Du lịch 
               Tỉnh Nam Định



* CẢM NHẬN - PHÊ BÌNH:

THƠ PHẠM QUỐC KHÁNH
“ƯỚC VỌNG XANH”
Một tiếng lòng vọng mãi với thời gian

        Người ta đong đếm thời gian qua từng hạt cát rơi nhè nhẹ qua đường ống nhỏ. Rồi lại đếm thời gian bởi bước nhảy mong manh của cây kim trên mặt phẳng của chiếc đồng hồ. Thời gian cho ta tất cả và thời gian lại lấy đi những gì của thuở ban đầu.
Thời gian xuôi chảy chẳng bao giờ trở lại. Thơ xưa hay lấy sự đổi thay của màu hoa, sắc lá để nêu sự chuyển dịch của thời gian “Ngô đồng nhất diệp lục/ Thiên hạ cộng tri thu” (Ngô đồng rụng một lá biết là thêm một mùa thu). Hay “Sen tàn, cúc lại nở hoa”(mùa hạ qua đi, mùa thu lại đến), “Đầu tường lửa lựu lập lòe đâm bông” (Mùa hạ đã trở về nên hoa lựu nở)...
“Ước vọng xanh” của Phạm Quốc Khánh cũng vang lên một tiếng lòng và ngân mãi với thời gian bằng sự chuyển dịch mùa.
Chỉ một “Bông gạo” (Trang 22) “Yêu thương quyện cả bốn mùa”. Bốn mùa là thời gian khái quát rộng dài của một chặng thời gian gồm mùa xuân “Nụ đào hé nở”, mùa hạ “Dạ lan, hoa gạo”, mùa thu “tím những chiều ngẩn ngơ” và mùa đông “hong lên trống trải”. “Khoảng trống” (Trang 23) cũng như vậy!
Mùa xuân đánh dấu tuổi trẻ của năm, mùa xuân chỉ có mấy chục ngày mà rộn ràng kỳ lạ. Sức trẻ của năm ngắn lắm. Như một chu kỳ của đất trời, mùa xuân qua đi rồi mùa xuân lại trở về. Thời gian của đất trời cứ tuần hoàn theo chu kỳ bất tử. Còn chúng ta, mùa xuân của đời người dài mấy chục năm. Rồi mùa xuân chẳng bao giờ trở lại. Vì vậy ta cứ ngơ ngẩn trách đấng cao minh “Lòng tôi rộng nhưng lượng trời cứ chật/ Không cho dài thời trẻ của nhân gian”. Tác giả khi thấy mùa xuân thấp thoáng qua nhanh đã “Tưởng” (Trang 18), để rồi muốn níu giữ ngày không cho trôi nữa “Níu ngày dừng bước thiên di/ Thoảng bàn tay chạm xuân thì rất riêng”.  Xuân cứ trẻ mãi còn ta đã “Quá rằm” mặc dù trăng rất đẹp “Trăng giữa làng thơ” (Trang 27) nhưng hãy giữ xuân lại bằng “... dìu dịu bốn mùa cõng xuân”. Ta yêu xuân nên ta “Đợi xuân” (Trang 52). Xuân nhất định sẽ trở về nên ta “mải miết nhặt buồn”  để  thêu bức thảm chờ mong chờ đến độ “thẫn thờ đợi xuân”.
     Xuân mạt hạ sơ. Đó là quy luật. Bao giờ đất trời cũng có nhịp cầu nối thời gian giữa mùa này và mùa kế tiếp. “Heo may bất chợt” (Trang 42) là sự tiếc nuối một mùa đã qua. Mùa hè đã sang trong âm thanh “ran rát tiếng ve” và hình ảnh “nắng hè nồng say”.  Những cái “bất chợt” đến ta thường bừng tỉnh nhớ về một quá khứ vui , buồn... tưởng như che khuất nhưng lại đột ngột trở về đến độ “nhập vàng bóng ai...”. Thời gian trôi nhưng thời gian lưu lại trong ta bao kỉ niệm. Những ngày hè ta lại “Về giữa tình quê” (Trang 113) để “ngồi ngắm trăng lên/ uống chung bát nước chè bên sông Đào”.  Niềm vui dành cho bạn bè , dành cho con cháu là những niềm vui bất tận. “Vui ngắm cháu thơ” (Trang 70) khi mà Phượng đỏ đầy trời “đã gợi nhớ” “ những ngày còn tuổi thơ...”.  Mùa hạ qua rồi, mùa hạ chìm vào dĩ vãng.
   Ngày lại nối ngày. Mùa lại tiếp mùa. Ấy là mùa thu. Chẳng hiểu sao từ bàn cổ đến tân kỳ, mùa thu đến, đang mùa thu hay mùa thu đi bao giờ cũng gây nhiều chấn động nhất trong rái tim nghệ sĩ, thi sĩ... Phải chăng vì mùa thu có lá vàng rơi, có trời xanh ngắt, có nước trong veo... Mùa thu bao giờ cũng gợi buồn vì ta phải tạm biệt một thời náo nhiệt, tạm biệt cánh phượng hồng, tạm biệt tiếng ve kêu... Những người làm thơ bao giờ cũng dồi dào cảm xúc khi mùa thu đến. Thời gian thu ắp đầy bao nỗi nhớ, tình thương. “Ước vọng xanh” của Nàng Thơ Phạm Quốc Khánh cũng vậy. Anh đã dành cho tập thơ của mình hơn chục bài thơ thấm đẫm chất thu. Trước tiên là một thông điệp của trái tim “Gửi thu” (Trang 25). Với những từ ngữ hình ảnh gợi mà không thô “se se, níu khẽ, nhè nhẹ, lâng lâng”. Với nỗi nhớ sâu thẳm phía chân trời “Lâng lâng nỗi nhớ đến từ chân mây...” Mùa thu là mùa của nỗi nhớ. “Thu nhớ” (Trang 93). Tác giả mượn cảnh để nói tình. Mưa thu không nặng hạt như mưa hè mà chỉ là “Mưa sớm vờn thu” để mà “Khơi nỗi nhớ bộn bề”. Người xưa cũng đã từng than thở trước mưa thu “Thu thiên chỉ kiến vũ bài nhài”. Cùng mô típ ấy, tác giả lại thấy “Thu buồn” (Trang 46) ở một nét khuất khác mà mùa thu thời gian như lê thê dài đến độ mắt thu đẫm lệ “Não nề nào ướt mắt thu”. Nỗi buồn ấy biết ai mà sẻ chia cho cõi lòng “Cho ta quẩy một gánh sầu chung đôi...”.  Ai chẳng biết mùa thu là hiện thực. Hiện thực ở con gió heo may, ở cánh lá vàng rơi, ở ánh mắt buồn man mác  phương đông của em. Thế nhưng Nàng Thơ trong thi phẩm “ Ảo ảnh thu” (Trang 53) thì “nắng kia rất thật” mà “Chỉ có trăng hay ảo ảnh thất thường...” . Người xưa khi đến với cái nghiệp thơ cứ day dứt “Đời đáng chán hay là không đáng chán/ Cất chén quỳnh ta hỏi bạn tri ân?”(Tản Đà). Và người làm thơ cũng là người mộng nhất. Họ nghe bằng trái tim, để mà cảm hết được thế thái nhân tình, để mà “Ru gió mùa thu” (Trang 55). Chỉ có tâm hồn người làm thơ mới nghe được tiếng thu “Đâu đây nghe vẳng tiếng thu”. Tiếng thu trong hay đục, cao hay thấp chẳng có máy móc nào làm ta biết được mà chỉ có tâm hồn đa cảm mới rõ đó là “Thoảng như gió hát lời ru ngọt ngào”.  Mùa thu, mùa nhẹ nhất trong năm. Mây nhẹ nên mây bốc lên cao. Nước nhẹ nên nước trong veo. Gió cũng nhẹ nên gió chỉ thấp thoáng bay qua. Bởi vậy tác giả có cách quan sát rất tinh tế  Khẽ chạm heo may” (Trang 56) để là xuất phát điểm cho cảnh, cho tình, mơ mộng Heo may khẽ chạm mơ màng... Se se khẽ chạm áo chàng”. Chừng nào còn tồn tại ta còn phải quan sát. Người làm thơ càng cần phải quan sát. Vì vậy nhà bác học  Ga li lê đã căn dặn ta “ Quan sát - Quan sát - Quan sát nữa!”. Thế rồi có một buổi chiều nắng cho dù không vọng tiếng thu ở không gian. Một bến đò chiều, ngày sắp được nghỉ ngơi “ Chiều trôi” (Trang 36) ta vẫn cảm nhận “ Mái chèo gõ nhịp khoan thai/ Đò qua bến lặng mảnh mai trăng mờ”. Tiếng thu đã khơi dậy cõi lòng ta một nỗi đam mê, bay bổng thăng hoa để cảnh và người hòa làm một. Cảnh sinh tình và tình trong cảnh. Có như vậy cuộc sống mới nên thơ. Và thơ mới có chân hiện thực để bay bổng . “Lời ca bổng cả trời thu” (Trang 85) đã khẳng định “Đêm thu sáng tựa ban ngày/ Bàn tay cháu với tìm tay chị Hằng”. Mùa thu biết bao nẻo đường xuôi ngược. Thu đi vào hoa cúc, vào ngõ trúc quanh co... Và mùa thu đi vào nỗi nhớ. Có những cái nhớ cồn cào, nhớ về một miền cụ thể. Đó là “Nha Trang...nỗi nhớ” (Trang 82), nhớ chiều, nhớ nắng, nhớ sóng và nhớ nhất là “Nắng vàng thu quyện gió lành/ Thuyền hôn đỉnh sóng chòng chành đầy vơi”. Đất nước mình, bất cứ đến đâu cũng chạm vào nỗi nhớ. Đến Hải Phòng nhớ nữ tướng Lê Chân, nhớ mùa hoa phượng rợp trời sắc đỏ. Đến thành Nam nhớ Tú Xương nhà thơ trào phúng vang bóng một thời, nhớ tiếng còi tầm thành phố dệt lúc tan ca. Và nếu một lần bạn đến Huế thì biết bao cảnh đẹp ùa vào tâm thức. Tiếng lòng của nhà thơ đã rung lên lúc “Huế chiều” (Trang 98) ngọn bút đã tràn lên trang giấy “Chạm vào Huế, chạm vào nỗi nhớ/ Nhớ sông Hương một khúc bắc hai cầu”. Còn đây nữa thắng cảnh thiên nhiên, kỳ quan của loài người, phía đông - bắc Tổ Quốc. Nơi ấy là Hạ Long. Thế mới biết người yêu đời là người yêu cảnh nhất. Người ấy, cảnh ấy lại đang đẫm sắc thu, vào thời điểm bóng đêm tràn ngập cả không gian “Đêm Hạ Long” (Trang 104). Chỉ có hòa mình vào cảnh, vào tình mới nhìn thấy “Cát không nhiều chỉ hương gió thu bay/ Những con sóng trao nghiêng vào nỗi nhớ”...
Cũng như muôn loài, thời gian cứ trôi xuân tàn, hạ lụi, thu đi... Năm đã già khi mùa đông đến. Thật đa sầu, đa cảm Nàng Thơ của “Ước vọng xanh” lại nghĩ về mùa đông. Nếu có người hỏi: Bạn thích mùa nào trong năm? Câu hỏi thật đa chiều, nhiều hướng. Có người thích mùa xuân, kẻ thích mùa hạ, ai đó thích mùa thu và vẫn có tiếng vọng: Thích mùa đông. Họ bảo rằng: Mùa đông là mùa ấp ủ men nồng, mật ngọt, mầm sống diệu kì cho mai ngày đầy hứa hẹn. Trái tim đa cảm, lúc nào cũng đầy ham muốn. “Muốn tắt nắng đi, muốn buộc gió lại” (Xuân Diệu). Còn Quốc Khánh anh lại muốn bằng một giả định hư trương “Nếu một ngày” (Trang 24) để thả lòng mình vào ham muốn với những từ “nếu”, “đừng”, “sẽ” để ngăn mùa đông đừng khơi dậy nỗi đau nữa. “Nếu mùa đông sương đừng gieo sắc tím/ Hoa sẽ không rầu, không úa dưới lòng tay”. Mùa đông bao giờ ánh sáng cũng non hơn bóng tối. Cho nên “Đêm đông” (Trang 45) là những đêm dài, hình như thời gian trôi chậm lại để nỗi nhớ cứ bề bộn canh cánh bên lòng “Gió lùa lạnh buốt tái tê/ Hai đầu nỗi nhớ bộn bề ánh trăng...”. Mùa đông là thời gian chót của bốn mùa, bóng dáng mùa đông khi tà dương lệch bóng thì hình ảnh của “dáng ai” chênh vênh, huyền ảo tựa hồ “Sen vàng lãng đãng như gần như xa” của nàng Đạm Tiên vậy! Đúng là “Dáng chiều”(Trang 38) của mùa đông “Gió mùa lạnh ngắt bến xưa/ Dáng ai heo hắt bên bờ sông thương”. Khi mà mùa đông khép lại ta vội vàng “Đi tìm nỗi nhớ” (Trang 43) để rồi ta chẳng bao giờ tìm thấy. Cặp lục bát “Quẩn quanh với nỗi nhớ ai/ Uốn song gió khẽ rắc hoài giá đông” Một nhãn tự xuất hiện là “uốn”. Liệu “gió” uốn song hay “song” uốn gió? Cái hay của thơ là hai mạch cảm xúc cùng tràn vào một dòng chảy là “Khẽ rắc hoài giá đông”. Và mùa đông đã qua đi bằng thi phẩm “Qua mùa”(Trang 19), với những dòng săc ngọt “Qua mấy mùa đông lạnh/ dáng em chợt hao gầy”.
      “Ước vọng xanh”  của Nàng Thơ Phạm Quốc Khánh là tập thơ mà tình trong thơ, thơ lại trong tình. Biết bao nhiêu mạch nguồn tình cảm, biết bao sợi tơ lòng dăng mắc. Người yêu thơ Vương Bảo chỉ muốn nêu “Một tiếng lòng vọng mãi với thời gian” qua bốn mùa Xuân - Hạ - Thu - Đông mà “Ước vọng xanh” thấp thoáng hiện về. Nhận xét của người yêu thơ còn rất chủ quan trong cảm nhận. Biết đâu cái chủ quan lại đồng hành cùng cái khách quan. Tất cả chỉ là niềm vui để chúng mình cùng đi đến chân trời “Ước vọng xanh”.
Tôi vẫn phải nói một điều: Cảm ơn tác giả Phạm Quốc Khánh, anh đã cho tôi được thưởng thức gần một trăm bài thơ đẹp và thơ.

Thành phố Hoa Phượng Đỏ:15/01 Đinh Dậu - 2017.
Vương Bảo
ĐT:0932.297.399
Email:vuongbao1938@gmail.com











         

1 nhận xét:

Đăng nhận xét

 
Bản quyền bởi: Nhà thơ Phạm Quốc Khánh - Địa chỉ: Liêm Hải, Trực Ninh, Nam Định - Điện thoại: 0913367019 - Bảo trợ bởi: Thi đàn Việt Nam.